Quết bánh phồng

Quết bánh không phải chỉ là chuyện làm để có cái ăn mà nó rèn cái khéo, cái tinh tế, cái đó là cái quý nên tới tết người ta mới làm.

Ảnh: TL SGTT
http://sgtt.vn/Huong-vi-que-nha/130013/Quet-banh-phong.html

Hồi đó ở khu Tây Nam bộ, không hiểu do thời buổi chiến tranh hay vì ở lớp không có con trai cùng trang lứa mà lũ con gái trở nên vô tâm vô tánh. Vô tâm đến nỗi có đứa móng chân bị đóng phèn vàng khè vẫn ít khi kỳ cọ. Còn có đứa hai cái vạt áo đầy lọ vì hễ nấu cơm thì nó ăn vụng, bốc thử thức ăn. Mọi chuyện bình lặng vậy, hồn nhiên vậy cho tới năm chúng học lớp 3 - khoảng năm 1971, 1972 gì đó.

Bấy giờ lớp cô Dung, cô Nhân có thêm cô bạn từ thành mới vô. Đó là con Mậu. Tên đầy đủ của nó là Bích Mậu. Con nhỏ làm nên thứ ý thức mới cho lũ con gái lớn đầu còn hớ hênh. Vì nhìn con Mậu, tụi con gái biết mình không được cái này, thiếu cái kia.

Đã vậy, con Mậu mà lựa mì (để quết bánh phồng mì) thì mì không còn sợi xơ nào; lựa gạo lẫn trong nếp (để quết phồng nếp) thì gần như không thể sót một hột gạo trong thúng nếp. Cho nên thấy nếp, mì do con Mậu lựa, đem nấu xôi khi quết thì nhuyễn nhừ. Còn của con Bé Hai, được coi là thủ lĩnh của lớp, thì rờ vô thấy đầy “óc trâu”. Cô Dung, cô Mỹ Nhân đã biết ngay trong đêm quết bánh. Cô nhắc con Bé Hai thì nó dùng dằng. Thôi thì mịn hay lợn cợn gạo, xơ khoai mì gì rồi mình cũng ăn. Cô không nỡ làm con Bé Hai buồn vì tết nhứt. Nhưng tới bữa nướng bánh thì cái khéo, cái vụng lộ ra hết. Dân rành quết bánh, cán bánh phồng ai không biết: hễ nếp còn lộn gạo, khoai mì lộn xơ, bánh không ngon. Cán không đều, khi nướng, bánh chỗ khét chỗ sống.

Cái bánh con Bé Hai cán vì vậy, khi nướng có hai màu - chỗ đen chỗ trắng. Còn cái bánh con Mậu thì vàng đều. Thấy vậy, cô nó kêu nó bỏ nhỏ. Nó tức, nói cụt ngủn: “Đêm, đèn dầu ai mà thấy đường”. Nói vậy là con Bé Hai không biết rồi. Vì dân quết bánh phồng quen rồi có khi người ta không cần rờ vô, mà chỉ nghe cái tiếng chày quết vào cối “ìn ịch”, cái tay nghe nặng đều dưới chày thì biết cối bánh đang quết nhuyễn hay chưa. Cho nên đèn dầu hay trăng lưỡi liềm cuối tháng chạp trong đêm quết bánh, giáp tết có hề hấn gì. Con Bé Hai không biết nên nó đổ thừa trăng lu đèn không tỏ thôi.

Sau tết năm đó ít lâu, con Bé Hai ngã bệnh. Hồi đó, hễ bệnh là dễ sốt rét. Lúc này lớp nó đang mùa thi. Các bạn bận rộn. Bác Sáu Già chèo xuồng đi rước con Bé Hai, đưa đi trạm xá của trường (vì mỗi lớp chỉ có thể tự sơ cứu).

Lúc con Bé Hai hết hùng hổ như con trai, nó nằm xuôi cò trên sạp xuồng, đắp chiếc võng dù phong phanh, bác Sáu mới nói:

“Quết bánh không phải chỉ là chuyện làm để có cái ăn mà nó rèn cái khéo, cái tinh tế, cái đó là cái quý nên tới tết người ta mới làm. Con gái lớn lên cần cái khéo, cái tinh đó. Chớ nếu chỉ để ăn thì mua cũng được, làm làm chi cho cực…”.

Con Bé Hai nhìn bác Sáu cười như mếu: “Con biết rồi chớ bộ”.

Bữa con Bé Hai hết bệnh trở về, nó nghe con Mậu thay nó đi thăm câu ngoài trảng. Nó hốt hoảng chạy len theo hàng sậy đầy sương. Nó kêu con Mậu. Tiếng nó kêu vang đầy mặt trảng. Không có tiếng trả lời, con Bé Hai linh cảm có chuyện không hay.

Con Mậu mới vô rừng. Nó không biết đường nữa. Bữa đó, nó bị sụp hầm chông. Con Bé Hai tới nơi, kéo con Mậu lên, cõng về. Đến lượt con Bé Hai đưa con Mậu đi trạm xá. Chiếc xuồng vừa tới đập cột nhà thì nước cạn tới mức phía ngoài đập, nước cạn lồi bãi thật dài. Những con cá thòi lòi đi kiếm ăn đã hiên ngang bò lển nghển. Con Bé Hai không chờ nước lớn, nó thi nhau với lũ cá thòi lòi. Nó lội xuống bãi sình, đẩy xuồng, đưa con Mậu đi. Lúc đó cây chông còn dính dưới bàn chân con Mậu. Nó vừa đau vừa áy náy.

- Mày không giận tao nữa hả?

- Giận gì!

Con Bé Hai buồn, quả quyết:

- Không khéo như mày thì tao đẩy xuồng cho mày tới già luôn…

- Tại chiến tranh, mày không được ở với má như tao chứ bộ.

- “Quê” thì đổ thừa tại chiến tranh cho đỡ “quê” vậy thôi, chớ quết bánh phồng thì chiến tranh, hòa bình nỗi gì!

HUỲNH THANH DIỆU

(trích Hương vị quê nhà, SGTT Xuân 2005)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Cảm nhận Cần Thơ